Tiếng Việt English
Icon-menu2 Tin nội bộ
Icon-menu2 Tin thị trường
Icon-menu2 Quan hệ cổ đông
Tin thị trường  
Quá trình lịch sử phát triển công tơ điện ở Việt Nam
Lưới điện miền Bắc áp dụng chủ yếu theo hệ tiêu chuẩn của Liên Xô. Công tơ sử dụng trên lưới điện đa phần là của Liên Xô, ngoài ra còn có của một số nước khác như: Bungari, Hunggary, Tiệp khắc, Ba lan... Trong các nhà máy xay xát thóc gạo và các cơ sở công nghiệp do Trung Quốc viện trợ thì sử dụng công tơ điện của Trung Quốc sản xuất. ở miền bắc, điện chủ yếu được nhà nước bao cấp. Ngoài những nơi được lắp đặt công tơ để đo đếm, số còn lại thì áp đặt chế độ khoán.

Những biến động trong quá trình dựng nước, giữ nước và cơ chế xã hội cũng đã có ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển này. Lịch sử phát triển có thể tạm chia làm 3 giai đoạn:

- Từ thời kỳ Pháp thuộc đến  trước năm1954.

- Từ 1954 đến 1975.

- Từ 1975 đến nay.

Giai đoạn trước năm 1954, điện đã có ở nước ta và được sử dụng chủ yếu ở các thành phố và vùng công nghiệp lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang... việc đo đếm chủ yếu bằng công tơ của Pháp sản xuất và còn lại thì áp dụng kiểu thanh toán khoán.

Từ năm 1954 đến  năm 1975, nước ta tạm bị chia làm hai miền. Hệ thống quản lý và phân phối điện cũng bị ảnh hưởng theo 2 hệ tiêu chuẩn áp dụng trong hai phe tư bản và xã hội chủ nghĩa. Lưới điện miền nam áp dụng chủ yếu theo hệ tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, lúc đó sử dụng công tơ điện của hãng Westinghouse - Hoa Kỳ, và của một số nước khác như ấn Độ, Đài Loan... và chưa có cơ sở nào sản xuất ra công tơ điện.

Lưới điện miền Bắc áp dụng chủ yếu theo hệ tiêu chuẩn của Liên Xô. Công tơ sử dụng trên lưới điện đa phần là của Liên Xô, ngoài ra còn có của một số nước khác như: Bungari, Hunggary, Tiệp khắc, Ba lan... Trong các nhà máy xay xát thóc gạo và các cơ sở công nghiệp do Trung Quốc viện trợ thì sử dụng công tơ điện của Trung Quốc sản xuất. ở miền bắc, điện chủ yếu được nhà nước bao cấp. Ngoài những nơi được lắp đặt công tơ để đo đếm, số còn lại thì áp đặt chế độ khoán.

Giai đoạn từ 1975 đế nay, nước ta đã hoàn toàn thống nhất, ngành điện đã xây dựng được một hệ thống quản lý nhà nước thống nhất từ sản xuất đến truyền tải và phân phối chung là Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN). Đường dây truyền tải điện chung Bắc - Nam 500 kV đã được xây dựng và đưa vào vận hành.

Cơ sở đầu tiên ở Việt nam đã nghiên cứu, sản xuất ra công tơ điện là phân xưởng Hoá - Lý của nhà máy chế tạo biến thế tiền thân của công ty chế tạo thiết bị đo điện (EMIC) hiện nay, nằm ở trung tâm Hà Nội. Năm 1976, 04 công tơ cảm ứng đầu tiên của Việt Nam đã ra đời được đưa vào thử nghiệm, chúng có hình dáng mô phỏng như một loại công tơ của Liên Xô (dáng như cái bánh oản trên bàn để thờ cúng). Do những hạn chế về công nghệ thời bấy giờ nên một số chi tiết đã không đạt được như mong muốn: mạch từ nam châm vĩnh cửu, bộ số, chi tiết truyền động... Sau này công ty đã kết hợp với các cơ sở nghiên cứu khoa học khác ở trong nước như Viện công nghệ - Bộ quốc phòng, nhà máy M1, M3... để lần lượt khắc phục và đưa vào sản xuất hàng loạt công tơ 1 pha và 3 pha.

Bước tiếp theo là vào  năm 1991 do nhu cầu cung ứng và sử dụng điện năng, nên đòi hỏi phải sử dụng công tơ 3 biểu giá. Ngoài số công tơ kiểu cảm ứng được nhập về từ hãng Schlumberger, công tơ kiểu cảm ứng 3 pha 3 biểu giá của công ty EMIC đã ra đời. Đây là công tơ 3 pha có 3 bộ số và các bộ số được kích hoạt theo một đồng hồ thời gian thông qua rơle hút kiểu điện từ. Bước tiến đột phá nâng công ty lên một tầm cao mới vào giai đoạn 1993-1995 khi công ty này tiến hành liên doanh liên kết sản xuất với hãng sản xuất công tơ nổi tiếng trên thế giới Landis & Gyr0 - Thụy Sỹ. Hiện nay sản lượng hàng năm của công ty là: 2,5 triệu công tơ 1 pha và 100.000 công tơ 3 pha. Sản phẩm của công ty chiếm đa phần trên lưới điện ở Việt Nam, số còn lại là công tơ cuả các hãng Schlumbeger, Email, Westinghouse... Trong mảng dân sự mà đặc biệt là ở các vùng nông thôn  thì chủ yếu là công tơ 1 pha của Trung Quốc

Còn có một cơ sở khác cũng sản xuất công tơ kiểu cảm ứng đó là một công ty của Thái Lan - Công ty liên doanh OEIC đóng tại khu công nghiệp Biên Hoà 2 với 100% vốn của nước ngoài, sản xuất theo công nghệ của Hãng Mitsubishi - Nhật bản với sản lượng 400.000 chiếc/năm.

Như chúng ta đã biết, do những hạn chế của công tơ kiểu cảm ứng về tính năng kỹ thuật, độ chính xác,... nên từ năm 1970 trên thế giới đã bắt đầu triển khai việc nghiên cứu sản xuất và úng dụng công tơ điện tử, còn ở Việt Nam thì sau một thời gian sử dụng công tơ cảm ứng 3 biểu giá chủ yếu của công ty EMIC và của một số hãng nước ngoài... Năm 1995, Tổng công ty điện lực Việt Nam đã quyết định triển khai ứng dụng công tơ điện tử nhiều biểu giá, theo đó một nhóm chuyên gia đầu ngành gồm các ông Nguyễn Hữu Ngọc (ETC1) Vũ Đăng Quang (VMI), Nguyễn Hanh (Hanoi PC) và ông Toàn (Ban lưới EVN) đã nghiển cứu và tư vấn giúp cho Tổng công ty về chủng lọai công tơ điện tử cần nhập khẩu. Kết quả đợt đầu tiên với khoảng 5.000 công tơ điện tử 3 pha nhiều biểu giá của các hãng GEC - Vương quốc Anh và SCHLUMBEGR Pháp-Hoa kỳ-Tây ban Nha đã đựơc nhập về, sau khi qua khâu thử nghiệm ở VMI đã được đưa vào lắp đặt đo đếm trên lưới điện. Tiếp sau đó công tơ 3 pha nhiều biểu giá của các hãng ABB, Elster group, EDMI, Landis & Gyr... đã lần lượt được triển khai sử dụng đại trà. Việc nghiên cứư sản xuất và lắp ráp công tơ điện tử ở trong nước cũng đã hình thành, ngoài công ty EMIC còn có một số cơ sở khác như  SEEN, ETC 1, PC 3... sản xuất ra với số lượng không đáng kể.

Hiện tại, việc lắp đặt và sử dụng công tơ điện tử được áp dụng cho các hộ tiêu thụ điện lớn sử dụng điện 3 pha còn các hộ tiêu thụ điện 1 pha chỉ  mới được tiến hành thí điểm... Từ sau vụ điện kế điện tử ở thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 6 năm 2005, việc lắt đặt và ứng dụng có phần bị chững lại.

Trong  lĩnh vực công tơ chuẩn, thì trước năm 1994, phương tiện kiểm chuẩn công tơ điện là oátmét và đồng hồ bấm giây, kiểm theo phương pháp công suất và thời gian, tiếp theo đó là công tơ chuẩn kiểu cảm ứng có kim chỉ. Năm 1995 Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đã đầu tư cho VMI một hợp bộ công tơ chuẩn đầu tiên kiểu điện tử cấp chính xác 0,1 của Hãng Landis & Gyr: TVE 102/3, đây cũng còn là cơ sở để nghiên cứu chế tạo ra công tơ chuẩn kiểu điện tử ở Việt Nam. Năm 1996, công tơ chuẩn kiểu điện tử đầu tiên ra đời cấp chính xác 0.2 là sản phẩm kết hợp giữa phòng đo lường điện của Trung tâm Đo lường Việt Nam và phòng tự động hoá của Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, công tơ có dáng mô phỏng kiểu SU 6806 của Nga, từ đó đến nay đã không ngừng được hoàn thiện và đã được phê duyệt mẫu năm 2006 đạt cấp chính xác 0.1.ở góc độ quản lý nhà nước về kỹ thuật, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng luôn theo sát và hỗ trợ đắc lực cho lĩnh vực này. Về văn bản pháp quy kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường ở Việt Nam được chia làm 2 ngạch: một là yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử, hai là quy trình kiểm định. Năm 1978 tiêu chuẩn đầu tiên về công tơ điện ra đời mang mã số TCVN 2813-1978 Đây là một tiêu chuẩn nhà nước về quy trình kiểm định do Phòng đo lường điện  thuộc Cục Đo lường Trung ương biên soạn.

Sau cuộc họp bàn về thí điểm quản lý nhà nước đo đếm điện năng tổ chức tại thành phố Hải phòng vào ngày 9 tháng 8 năm 1979 giữa 4 bên: Công ty điện lực 1, Sở điện lực Hải phòng, Cục đo lường trung ương và Chi cục TCĐLCL Hải phòng, việc đo đếm điện năng đã dần đi vào quỹ đạo đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Đấy cũng là cơ sở để hình thành cơ chế uỷ quyền kiểm định và công nhận khả năng kiểm định về sau này.

Tiếp đó tiêu chuẩn ngành về yêu cầu kỹ thuật của công tơ điện cảm ứng mang mã số 16 TCN-389-1986 do Bộ cơ khí và luyện kim biên soạn được ban hành. Đến năm 1991 tiêu chuẩn chính thức của nhà nước về yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử  của công tơ điện kiểu cảm ứng được ban hành mã số TCVN 5411-1991, nội dung cơ bản và các chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng chủ yếu vẫn dựa vào tiêu chuẩn của Liên Xô GOST 6570 -75 tương đương tiêu chuẩn của khối SEV 1108-78. Về quy trình kiểm định công tơ điện kiểu cảm ứng thì TCVN 2813-1978 được soát xét lần thứ nhất thành TCVN 2813-1990, soát xét lần thứ 2 đổi thành QTKĐ 49-1994, sau lần soát xét thứ 3 đổi thành ĐLVN 07- 1998 và lần cuối cùng là ĐLVN 07-2003. Từ lần soát xét thứ 2 trở đi, quy trình đều cập nhật theo các tiêu chuẩn quốc tế  IEC phiên bản IEC 521-1976, IEC 521-1988 và IEC 62053-11-2003.

Riêng lĩnh vực công tơ điện tử, Tổng cục TCĐLCL đã thực hiện việc biên dịch thẳng, áp dụng hoàn toàn theo tiêu chuẩn quốc tế IEC về yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử gồm có: TCVN 6571-1999 (tương đương IEC 687-1992), TCVN 6572-1999 (tương đương IEC 1036-1996) và IEC 1268-1995 sau này các tiêu chuẩn đó đã được soát xét thành TCVN 7589-21-2006 (tương đương IEC 62053-21-2003), TCVN 7589-22-2006 (tương đương IEC 62053-22-2006) và IEC 62053-23-2003. Về quy trình kiểm định có ĐLVN 39-1999 và đã được soát xét lần đầu thành ĐLVN 39-2004

14-Tương lai.

Tập trung vào những định hướng thương mại của lĩnh vực đo đếm điện năng và ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ. Đó là những hướng trọng điểm để phát triển và tiếp tục đạt được những thành tựu trong quá trình phát triển mới của công tơ điện. Công tơ điện tử 1 pha và 3 pha chiếm ưu thế với những đặc tính ưu việt của nó đã và sẽ dần thay thế công tơ kiểu cảm ứng, ngoài ra còn tận dụng tối đa chức năng của một số mạch điện tử có trong công tơ để bổ sung thêm nhiều tiện ích khác thành như một công tơ vạn năng có thêm cả chức năng đo và hiển thị của công tơ nước, khí...

15-Lời kết

Trong phạm vi bài báo này, có thể đã không liệt kê đầy đủ hết tất cả mọi dữ liệu, chủng lọai công tơ của cả một quá trình phát triển lâu dài xuyên suốt thế kỷ trong lĩnh vực đo đếm điện năng.

Xin chân thành cám ơn ông Gyozo Kmethy và các đồng nghiệp trong mọi lĩnh vực có liên quan đến đo đếm điện năng đã giúp đỡ và cung cấp thông tin giá trị.
Back
Kéo dài tuổi thọ máy biến áp lực nhờ theo rõi tốt hơn
Máy biến áp lực là thành phần thiết yếu của hệ thống truyền tải điện và thường là tài sản giá trị nhất trong trạm biến áp. Kết cấu các cuộn dây máy biến áp dựa trên công nghệ đã được kiểm nghiệm theo thời gian, đó là dây dẫn đồng bọc trong cách điện xenlulô được tẩm kỹ dầu cách điện.
Detail_vi
Quy định đo đếm điện năng trong thị trường phát điện cạnh tranh
Ngày 25 tháng 9 năm 2009, Bộ Công thương đã ban hành Thông tư số 27/2009/TT-BCT Quy định đo đếm điện năng trong thị trường phát điện cạnh tranh gồm 7 chương, 50 điều.
Detail_vi
Gấp rút hoàn thiện các công trình đảm bảo điện 1000 năm Thăng Long- Hà Nội: Nhiều khu vực bị mất điện liên tục và kéo dài
Trong tuần qua (từ ngày 13-6), do ảnh hưởng của vùng thấp nóng phía Tây, với hiệu ứng gió phơn mạnh ở nam đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội, các tỉnh bắc và trung Trung Bộ xảy ra nắng nóng diện rộng, nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 – 38 độ C, nhiều nơi ở Bắc Trung Bộ nhiệt độ lên tới 38 – 40 độ C, cao nhất ở thủ đô Hà Nội vào ban ngày (16/6) là 40,4 độ.
Detail_vi
Siemens cung cấp máy biến áp một chiều cao áp (HVDC) : 800 kV mạnh nhất thế giới
Tiếp theo những thử nghiệm nghiệm thu cuối cùng thành công, Siemens Energy đã giao máy biến áp biến đổi điện 800 KV lớn nhất và mạnh nhất thế giới cho Trung Quốc.
Detail_vi
Quá trình lịch sử phát triển công tơ điện ở Việt Nam
Lưới điện miền Bắc áp dụng chủ yếu theo hệ tiêu chuẩn của Liên Xô. Công tơ sử dụng trên lưới điện đa phần là của Liên Xô, ngoài ra còn có của một số nước khác như: Bungari, Hunggary, Tiệp khắc, Ba lan... Trong các nhà máy xay xát thóc gạo và các cơ sở công nghiệp do Trung Quốc viện trợ thì sử dụng công tơ điện của Trung Quốc sản xuất. ở miền bắc, điện chủ yếu được nhà nước bao cấp. Ngoài những nơi được lắp đặt công tơ để đo đếm, số còn lại thì áp đặt chế độ khoán.
Detail_vi